CHUYỆN NƯỚC XÍCH QUỈ
(chuyện ngắn)
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Quỉ Vương II (đệ nhị) long thể bất an lâu ngày, hôm nay mới bình phục để ngự triều.
Nghe tiếng trống dục, các đại thần văn võ ai nấy vội vàng tề chỉnh lên kiệu vào chầu. Mọi người chờ trước sân rồng để vào U-Minh điện bệ kiến thánh nhan. Đúng giờ mẹo một khắc, quan thượng thư bộ lễ là Triệu Đô điểm danh. Tạm thời đông đủ cả, chỉ thiếu mặt tham tri bộ công là Đổ Tường. Thượng thư họ Triệu có vẻ lo âu, lên tiếng hỏi khắp tả hữu đồng triều:
- Có vị nào biết quan tham tri Đổ Tường đang hành lạc ở đâu không xin cho biết để phái cấm vệ đi mời. Giờ tảo triều đã sắp tới rồi.
Không hiểu tại sao quan thượng thư lại dùng chữ “hành lạc” ở đây để nói đến một quan tam phẩm của triều đình, hơn nữa lại là đồng liêu với mình, mọi người đều kinh ngạc đưa mắt nhìn nhau, rồi nhao nhao lắc đầu:
Bỗng một vị võ tướng già tên là Thỏ Đế ghé miệng sát vào bên tai thượng thư Triệu Đô thì thầm:
- Ông cứ ra Tú-Nuy Lầu tất sẽ gặp.
- Có thiệt không? Sao tướng quân biết? - Thượng thư Triệu Đô nghi ngờ hỏi lại.
- Giờ này rồi mà còn hỏi tại sao làm gì nữa? Ông không sợ trễ giờ chầu sao! Tôi lấy cái đầu bảo đảm với ông đấy. Được không?
- Được rồi, cám ơn lão tướng quân. Tôi cho người đi ngay.
Bấy giờ thừa tướng Tỷ Đô mới chen vào:
- Không cần đâu. Có mặt hay không có mặt quan tham tri Đổ Tường không thành vấn đề. Buổi chầu hôm nay không có việc gì quan trọng cả. Vả lại nếu Hoàng Thượng có hỏi gì liên quan đến ông ta thì cứ nói ông ta cáo bệnh là được rồi. Có gì đâu mà bận tâm lắm thế.
Nói ra vẻ rất tỉnh, nhưng thật ra thừa tướng trong lòng rất lo. Đổ Tường là đàn em thân tín của ông, càng ngày y càng lộng hành, chẳng còn coi ai ra gì. Thừa tướng chỉ sợ những chuyện kín Đổ Tường làm đổ bể không thể cứu vãn được thì ngay địa vị của mình cũng sẽ bị lung lay. Cho nên nói rồi ông lập tức bí mật cho người ra Tú-Nuy lầu báo động cho Đổ Tường để y lo chuẩn bị đối phó.
Có một cái gì đó khó hiểu trong thái độ của quan thừa tướng. Khi không thừa tướng lại tỏ ra quá dễ dãi bao che cho thuộc cấp của mình như thế. Lão tướng Thỏ Đế suy nghĩ trong bụng nhưng không tiện nói ra. Ông biết chắc giờ này viên tham tri bộ Công còn đang say sưa sát phạt và hưởng lạc trong tửu lầu Tú-Nuy, bởi vì sáng nay trước khi đi, người của Thỏ Đế cài tại Tú-Nuy Lầu đã mật báo với ông từng ly từng tí tất cả mọi việc xẩy ra trong đó rồi. Ông đã quả quyết thì làm sao mà trật được.
Tú-Nuy Lầu là một nơi ăn chơi nổi tiếng trong kinh thành. Cũng là nơi hẹn hò của đa số các quan lại trong triều. Những tai to mặt lớn từ quan chí dân khắp kinh thành không ai mà không từng đến nơi này để ăn chơi và hưởng lạc. Chính Quỉ Vương II và cả tiên đế trước kia nữa đôi khi cũng giả dạng thường dân lui tới chốn sa đọa này. Đó là một nơi cách cấm thành không xa. Tửu lầu này được mở ra làm ăn từ thời tiên đế còn sống, nghe đâu của một vị phu nhân đại thần nào đó rất có thế lực trong triều đình. Nhưng đó chỉ là lời đồn, không ai biết thực hư ra sao. Có một điều chắc chắc là tửu lầu này là một nơi gặp mặt của hầu như tất cả mọi nhân vật tai to mặt lớn tại kinh thành và khắp nơi trong nước Xích Quỉ.
Lầu chia ra hai khu riêng biệt để tiếp khách tuỳ theo sang, hèn. Một khu tiếp các khách bình dân đến ăn chơi gọi là Mục Tiên Các. Bá tánh ai vô cũng được miễn là có ngân lượng. Ở đây cũng không thiếu món giải trí nào, chỉ có điều kém xa xỉ một chút. Một khu khác cực kỳ xa hoa lịch lãm gọi là Động Cực Lạc để đón tiếp các khách đặc biệt, loại quan quyền từ tứ phẩm trở lên, và thứ hai là những bá tánh thuộc loại đã được xã hội tôn lên hàng đại gia. Các khách thượng lưu này mỗi người đều đã được phát cho một tấm thẻ Tín Bài để ra vô Động Cực Lạc khỏi bị khám xét.
Không phải ai vô Động cũng được. Muốn vô phải trình Tín Bài cho người gác cửa và đóng lệ phí tương đương với mười nén vàng ròng. Đây chỉ là lệ phí vô cửa. Trước khi bước qua cửa cấm, khách phải trút bỏ mọi thứ trên người xuống kể cả áo quần đang mặc, giao cho nhân viên cất giữ, khi ra mới được lấy lại. Bất cứ ai, dù là khách hay người phục dịch bên trong cánh cửa cấm, đều chỉ mặc trên người bộ đồ da trời ban, không còn một thứ gì khác. Tất cả mọi nhân viên phục dịch đều là phái nữ. Ngoại trừ hai vật quan trọng đặc biệt khách có quyền mang theo bên mình khi bước vào bên trong là Thẻ Bài vua ban (nếu có) và Thượng Phương Bảo Kiếm (cũng nếu có). Khách bước vô trong rồi cứ coi đó như nhà mình, có quyền sai bảo những người phục dịch trong đó như hàng nô lệ, và được phục vụ tất cả theo ý thích, kể cả những việc vợ chồng. Muốn ăn bất cứ thứ gì lập tức trong vòng một thì thời là được đem đến liền. Nhưng chắc chắn không ai vô Động Cực Lạc để tìm thức ăn ngon hay lạ miệng. Những thứ này khắp trong kinh thành không thiếu gì. Ngưòi sành điệu đến đây để hưởng thụ những thứ mà khắp vương quốc không nơi nào có.
Sau khi qua cửa cấm, đầu tiên khách được một tiên nữ dâng lên một khay đồ ăn gồm hai món kêu là Nhập Động Nhị Bửu. Đây là hai dược phẩm cực bổ, có tác dụng tăng cường sinh lực và khí huyết trong người. Một viên thuốc gọi là Bổ Tinh Huờn và một chung nước canh trong xanh như mắt mèo có tên là Cường Dương Thủy, uống vào cảm thấy thơm và mát. Bổ Tinh Huờn được bào chế bằng óc và nhau của thai nhi với nhân sâm ngàn năm, có tác dụng làm cho con người trở nên luôn tươi vui sảng khoái. Còn Cường Dương Thủy được tinh luyện bằng tim, gan, và thận của con nít mới chào đời, hoặc của thai nhi đã lớn gần tới ngày sanh cùng với thang thuốc của một vị vua chúa thời xưa có tên là “nhất dạ lục giao sinh ngũ tử”. Những vật liệu này đem hầm ba ngày ba đêm trong nước suối Ma Vương Lệ lấy từ khe Pác-Bó, chỉ để lấy nước uống, bã bỏ đi. Thứ này có tác dụng bồi bổ sức lực cho dẻo
dai, thân thể cường tráng. Người ăn Bổ Tinh Huờn và uống Cường Dương Thủy có khả năng thức và làm việc hoặc hành lạc ba ngày ba đêm ròng rã mà không biết mệt.
Có nhiều thú vui khác nhau trong Động Cực Lạc, nhưng cái thú độc đáo nhất có lẽ là thú đổ tường cùng với những màn phụ diễn của môn chơi tập thể này. Trò chơi đổ tường người bình dân quen gọi là cờ bạc. Người thường rất dửng dưng với nó, nhưng đối với kẻ có máu đỏ đen trong mình thì nó có sức quyến rũ lạ thường. Sau khi đã bước vào cuộc chơi, người ta mới thực sự cảm thấy sức quyến rũ mãnh liệt của nó. Quan tham tri bộ Công được đồng liêu đặt tên là Đổ Tường cũng vì ông ta thường xuyên có mặt ở đây để hưởng cái lạc thú này.
Nghề chơi đổ tường ở đây thật là lắm công phu. Trong một căn phòng rộng thênh thang, tuyệt nhiên không bầy biện bàn ghế, giường phản hay bất cứ một thứ đồ đạc gì. Cũng không trang trí. Nó tựa như một sân dã cầu trống trải được soi sáng bằng những cụm đèn cầy lung linh mờ ảo. Xem ra thiếu đủ thứ, nhưng khi các đấu thủ muốn gì, họ chỉ cần nói một tiếng, hoặc ra dấu, lập tức sẽ có ngay, và không thiếu một thứ gì. Cuộc chơi diễn ra trên một cái sàn gỗ trơn bóng lúc nào cũng mát lạnh, hình như bên dưới sàn có đệm lớp thủy băng. Trong góc phòng là một cái bồn nước, nhưng không phải đựng nước mà là rượu mạch. Bồn lúc nào cũng phải đầy. Người ta mua những cô gái đồng trinh đem về nuôi cho béo tốt rồi đem ngâm trần trong bồn rượu ngập đến cổ. Những hũ rượu mạch được hâm nóng thỉnh thoảng đổ vô bồn giữ cho nhiệt độ rượu trong đó lúc nào cũng đủ ấm để giữ cho các nàng luôn luôn tươi cười hồn nhiên. Ở nhiệt độ như thế rượu uống vào mới sảng khoái. Đây được coi là một thứ rượu thuốc rất bổ vì có pha lẫn nước tiểu của con gái còn đồng trinh. Thứ rượu này do người Xì Thẩu thời thượng cổ phát minh, dùng trong các cuộc hội hè của giai cấp quí tộc. Các con bạc nếu khát cứ vục mặt vào bồn mà uống, không cần ly tách gì hết, thật là tiện lợi.
Khách trên “chiếu bạc” bao giờ cũng là con số 5 nhất định. Khi có người bỏ cuộc thì mới có người khác thế vào. Bên cạnh mỗi con bạc luôn túc trực một đóa hoa biết nói sẵn sàng thỏa mãn bất cứ chuyện gì khách đòi hỏi. Những cô gái này không đòi hỏi phải còn trinh.
Trong khi sát phạt nhau tất nhiên có kẻ thắng người thua. Người thua thường đổ lỗi tại xui. Người gặp vận xui có quyền kéo một cô gái đồng trinh từ trong bồn rượu ra để xả xui ngay tại chỗ. Lối xả xui này là một thói quen mê tín trong nghề đổ tường: làm tình với con gái còn trinh là điều tốt lành mang lại nhiều may mắn. Cô gái sau khi đã trở thành đàn bà tại Động Cực Lạc có thể được giữ lại để phục dịch bên cạnh con bạc, hoặc bị đưa ra ngoài và không bao giờ trở lại đây nữa. Họ được coi như đồ dùng rồi cần phế thải.
Luật chơi bắt buộc đặt cửa ít nhất phải bạc ròng một ngàn lượng trở lên. Nhà cái tức chủ nhân Tú-Nuy Lầu chỉ lấy xâu có hai chục phần trăm. Có điều lạ là ở đây không bao giờ người ta chung tiền mặt hay ngân phiếu, mà chỉ giao ước với nhau bằng những con số sơ sài ghi trên giấy. Mọi người đều tay không khi bước vào, và cũng tay không khi trở ra. Người ta lấy việc giữ chữ tín với nhau làm trọng nên chưa bao giờ có bất cứ một vụ thưa gởi kiện tụng nào xẩy ra. Tú-Nuy Lầu nổi tiếng ở cái điểm đó. Người thua trả cho người thắng bằng cách nào và ở đâu, chỉ có trời biết.
Huyền sử về nơi ăn chơi bí mật này được kể lại rất nhiều trong dân gian. Một chuyện kinh hoàng mới xẩy ra gần đây là dư luận đồn thổi về vụ tham tri Đổ Tường thua một canh bạc đến mười mấy vạn lượng. Lương tam phẩm chỉ được vài chục lượng mỗi tháng. Không hiểu quan tham tri lấy tiền ở đâu ra để chơi lớn đến thế. Sự việc này từ trong triều đình đến ngoài dân gian không ai mà không biết. Quỉ Vương II hình như cũng đã có nghe qua, nhưng nhà vua vẫn tỏ ra kín tiếng. Trong khi đám nịnh thần tìm mọi cách để giấu nhẹm đi nội vụ vì có liên hệ dính chùm thì phe bị thất sủng đứng đầu là lão tướng Thỏ Đế lại nhất quyết ăn thua đủ trong vụ này.
Lão tướng Thỏ Đế và một số rất ít đám quan lại bị thất sủng không hay đặt chân đến Tú-Nuy Lầu, nhưng luôn sai người đến đó nằm vùng để dò xét và bẩm báo lại mọi động tĩnh của đám quan quyền khác phe phái lui tới tửu quán này. Ông ta biết mọi chuyện trong đó như trong lòng bàn tay nên mới dám đem cái đầu ra bảo đảm với thượng thư bộ lễ Triệu Đô. Đêm hôm qua tham tri Đổ Tường dắt thừa tướng Tỷ Đô vào Tú-Nuy Lầu cho mãi đến quá nửa đêm thừa tướng mới về nhà. Đổ Tường còn ở lại giờ này chưa có về vì cứ tưởng rằng Hoàng Thượng còn bệnh nên chưa tảo triều được. Sự thể vua bình phục và tảo triều xẩy ra quả bất ngờ đối với tham tri Đổ Tường. Lão tướng Thỏ Đế bắt được cái thóp nên nói khích thượng thư Triêu Đô để cho ông có dịp lấy điểm trước mặt hoàng thượng và cũng để lôi kéo ông ta về phe với mình.
- Phải rồi quan tham tri bị bệnh nặng đang nằm liệt ngoài Tú-Nuy Lầu. Chúng ta những người đồng nghiệp cũng cần quan tâm lẫn nhau chứ. Một con ngựa đau cả tầu không ăn cỏ mà. Nên cho người của ngự y phòng tới đó để săn sóc, và lát nữa quan thượng thư cũng nên tâu xin hoàng thượng cho ngự y ra ngoài đó chữa bệnh cho ông ta.
Thượng thư Triệu Đô hiểu ý Thỏ Đế muốn nói gì, ông ta gật đầu tỏ ý biểu đồng tình, rồi lập tức cho mấy tên cấm quân phi ngựa tới Tú-Nuy Lầu mục đích bắt tham tri Đổ Tường tại trận và dự định cáo y về tội khi quân.
Bên trong Động Cực Lạc, các con bạc vẫn tiếp tục các trò chơi của họ như không có chuyện gì xẩy ra. Cấm quân phóng ngựa như bay tới Tú-Nuy Lầu. Chúng xông vào mặc cho bọn đàn bà con gái và đám bảo vệ ngăn cản. Chúng lục lọi từng phòng, không bỏ sót nơi nào. Nhưng qua đến Động Cực Lạc, chúng bất ngờ gặp phải ổ kháng cự. Cấm quân đánh dạt và đẩy lui đám bảo vệ ra bên ngoài, rồi tông cửa xông vào bên trong. Tham tri Đổ Tường đã có chuẩn bị trước nên đẩy phò mã Bò Ngựa ra án ngữ ngoài cửa. Nhưng vô hiệu, bọn cấm quân gạt phò mã qua một bên rồi xông vô. Mọi người chạy tán loạn kiếm chỗ ẩn núp. Chỉ còn Đổ Tường dám đứng ra chống chọi. Ông ta nhẩy tới chộp lấy thượng phương bảo kiếm, rút ra khỏi vỏ, giơ lên và thét lớn:
- Thượng phương bảo kiếm đây. Thấy kiếm là thấy vua, sao không quì?
Sự thể một người đàn ông không mảnh vải che thân đứng chàng hảng dơ kiếm của vua lên trông thật chẳng còn ra cái thể thống gì, vừa tiếu lâm, vừa ê chề quá sức. Ấy vậy mà cả bọn lính đều sợ hãi quì mọp hô vang: Hoàng Thượng vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.
Tham tri Đổ Tường thấy bửu bối có linh nghiệm bèn trợn mắt nạt nộ để thị oai:
- Các người muốn làm phản phải không?
Tên trưởng toán cấm quân vẫn còn quì mọp, lễ phép thưa:
- Bẩm đại nhân không dám, chúng tôi chỉ vâng lệnh tới mời đại nhân về hầu triều.
Bọn cấm vệ bẽ bàng, tiu nghỉu rút lui. Trước sự đắc thắng ngoạn mục của tham tri Đổ Tường, mọi người trong Động Cực Lạc từ các khe hóc chui ra dậm chân la hét rần rần. Không khí thật là náo nhiệt.
Trong triều bọn xu nịnh đông vô kể. Chúng bao vây Quỉ vương không cho nghe biết gì ngoài nhân gian. Tuy thế cũng có những tin tức lẻ tẻ lọt đến tai nhà vua. Hôm nay, nhân buổi triều yết, Quỉ Vương trong lúc đang nghị luận việc chính sự, bất ngờ hỏi thừa tướng Tỷ Đô:
- Trẫm nghe ngoài đường có nhiều người chỉ trích trẫm, tố cáo các quan trong triều đục khoét quốc khố để sống xa hoa phung phí, còn địa phương thì nhũng lạm ức hiếp lê dân bá tánh. Thừa tướng, ái khanh có biết chuyện này không?
Thừa tướng Tỷ Đô nghe xanh mặt, vội quì vập đầu xuống tâu:
- Tâu Hoàng Thượng, nhờ hồng phúc của Hoàng Thượng, thần dân trong nước mọi người đều được ăn ngon mặc đẹp, khắp nơi thái bình hoan ca, ngợi khen công đức của ngài, chúng thần cầu mong Hoàng Thượng phước như Đông Hải thọ tỷ Nam Sơn để chúng thần đem sức khuyển mã hầu hạ ngài. Kính xin Hoàng Thượng đừng có nghe lời xàm tấu của những kẻ bất lương bên ngoài.
- Hay, hay lắm - Quỉ Vương mặt rạng rỡ gật gù – Thế còn các đại thần khác của trẫm, các ái khanh có nghe không?
Mọi người chỉ đưa mắt nhìn nhau, không ai dám hó hé. Một lúc lâu sau, viên đại tướng già mới bước ra tâu:
- Tâu Hoàng thượng, Hoàng Thượng đã hỏi đến, nếu thần biết mà không tâu lên thì thật là khi quân đáng tội chết. Nhưng thần biết mà nói ra thì lại sợ bất kính đối với long nhan, nên thần không biết phải làm thế nào đây. Ngày trước xông pha ngoài trận mạc thần coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Vả lại thần cũng đã già rồi, chết cũng chẳng đáng tiếc. Đời xưa trong triều chỉ có 7 nịnh thần thôi mà đã có người dâng sớ xin chém hết để định xã tắc và giữ yên bờ cõi. Bây giờ trong triều ta, bọn gian nịnh đông đến gấp trăm gấp ngàn lần thì bờ cõi nghiêng ngả biết là dường nào, xã tắc còn đâu là yên vui. Thần liều chết kính xin Hoàng Thượng ra lệnh chém đầu tất cả bọn nịnh thần đang sống nhởn nhơ chung quanh ngài. Thần cuí xin Hoàng Thượng minh dám.
Cả điện U-Minh vẫn im như tờ. Nhiều người toát mồ hôi. Quỉ Vương ngồi cứng đơ trên ngai vàng lâu lắm trấn tĩnh lại được mới hỏi:
- Lão tướng của trẫm, ái khanh muốn chém đầu ai, cứ nói ra cho trẫm và mọi người cùng nghe. Trẫm không bắt tội đâu.
Thừa tướng Tỷ Đô biết cuộc chiến đã bắt đầu mở màn. Ông cố gắng giữ bình tĩnh, đợi cho Thỏ Đế tâu dứt rồi mới lên tiếng chậm rãi lái vấn đề theo chiến thuật đánh phủ đầu đối phương. Ông tâu lên:
- Tâu Hoàng Thượng, lão tướng của chúng ta chinh chiến cả cuộc đời, lao lực quá độ, sức khỏe đã hao mòn, ít có khi đi đây đi đó nên không biết chuyện dân gian. Vả lại, tinh thần cũng đã sa sút, do đó nhận xét có phần thiếu sáng suốt. Hiện nay đất nước yên bình, mọi người sống yên vui như chưa từng thấy. Đó là nhờ hồng phúc của tổ tiên cũng như công đức của Hoàng Thượng. Bá tánh có kẻ nào dám dị nghị triều đình, thần đây quyết xin Hoàng Thượng đừng dung thứ. Những kẻ đó phải trừ đi cho bằng hết để yên xã tắc.
Lão tướng Thỏ Đế nghe xong, mặt đanh lại, đỏ bừng như người say rượu. Những sợi gân trên trán nổi lên quằng quện. Ông tiến lên trước mặt Quỉ Vương, lảo đảo như muốn ngã, sụp lậy trước mặt nhà vua, nói thều thào như muốn khóc:
- Tâu Hoàng Thượng, giang sơn của Hoàng Thượng sắp sụp đổ rồi, Hoàng Thượng có biết không? Bá tánh lầm than cơ cực. Tham quan ức hiếp dân lành vô kể làm cho sinh linh đồ thán. Ngoài kia nhiều người đang giãi nắng dầm mưa năm này qua năm khác, đội đơn xin được bệ kiến long nhan, mong nhờ đèn trời soi thấu cho những oan khiên khốn khổ của họ, nhưng lại bị bọn tham quan đàn áp xua đuổi. Trước nông nỗi này, hạ thần không thể ngoảnh mặt làm ngơ. Cái đầu của thần đây, thần xin dâng lên Hoàng Thượng để bảo đảm cho những điều thần dâng tấu.
Lão tướng Thỏ Đế vừa nói đến đây thì bỗng nhiên có một lính dịch trạm lưng mang cờ tiễn, hớt hải chạy xông vô điện, đồng thời miệng không ngớt la to: Khẩn tấu, khẩn tấu, 600 dặm tấu triệt hỏa tốc, hỏa tốc ………
Hai bên văn võ triều thần tránh dạt ra để tên lính trạm chạy vô. Hắn thở hổn hển, quì mọp trước bệ rồng, hai tay nâng tờ sớ lên cao khỏi đầu, báo:
- Tâu Hoàng Thượng, có tấu triệt thượng khẩn từ miền nam dâng lên Hoàng Đế.
Tên hoạn quan đứng hầu bên cạnh vua lập tức bước xuống nhận lá sớ trình lên. Quỉ Vương không biết là việc cấp báo gì, nhân đang lúc nghị triều, cho đọc ngay trước mặt bá quan văn võ để cùng bàn luận.
Toàn thể thần dân nước Xích Quỉ kính dâng lên Hoàng Đế bệ hạ là Quỉ Vương II những điều trần tấu như sau:
Trong nưóc pháp bất minh thì lòng người bất định, trị bất nghiêm nước sẽ sinh biến. Trong triều đình tôi bất trung, triều cang sẽ hỗn loạn. Giang sơn Xích Quỉ ta đang xẩy ra chuyện pháp bất minh, trị bất nghiêm và tôi bất trung. Kính xin Hoàng Thượng mau mau chấn chỉnh lại kỷ cương trong nước, diệt đi lũ nịnh thần trong triều, quyét sạch lũ tham quan đang hoành hành bá đạo làm khổ dân lành. Nếu không thì không mấy chốc nữa thôi, nước sẽ mất và vua tôi chúng ta sẽ bị hậu thế muôn đời nguyền rủa.
Để làm việc này, thần dân trong cả nước xin Hoàng Thượng chém đầu hết những kẻ nịnh thần trong triều. Xin nêu đích danh một nghịch thần trước để làm gương, đó là tham tri bộ công Đổ Tường, người này đã phạm các tội sau đây:
Thứ nhất, Hoàng Thượng thiết triều mà y đã tự tiện bỏ triều yết. Quan lễ bộ thượng thư Triệu Đô cho cấm vệ đi mời về chầu mà y cũng không chịu về. Đó là tội khi quân. Tội này đáng chém đầu.
Thứ hai, y ăn cắp tiền trong quốc khố để đánh bạc. Số tiền y đã ăn cắp bao nhiêu thì phải đợi điều tra. Chỉ biết có một lần y thua hết trên mười hai vạn lượng. Theo quốc triều hình luật, kẻ nào thụt két hai ngàn lượng thì bị chém đầu. Vậy chiếu theo điều luật này thì y không có đủ số đầu để chém.
Thứ ba, quan chức thay mặt vua là phụ mẫu chi dân. Cha mẹ dân phải làm gương tốt cho dân. Nhưng Đổ Tường, y thường ngày đêm chơi bời sa đọa, ăn thịt hài nhi để bồi bổ sức khỏe hầu tiếp tục chơi bời. Chó không ăn thịt chó, nhưng tham tri Đỗ Tường lấy việc ăn thịt đồng loại làm thích thú. Tội này chém làm trăm ngàn mảnh cũng chưa thỏa.
Sát nhất nhân vạn nhân cụ. Lập lại triều cương phải bắt đầu từ đấy. Những oan ức khiếu kiện khắp nơi trong nước phải được công minh giải quyết. Người có công thì luận thưởng. Kẻ có tội cần phải nghiêm phạt. Phép nước không dung thứ một ai. Thiên tử phạm pháp cũng đồng tội với thứ dân. Phép trị nước phải lấy dân làm gốc: dân vi quí, quân vi khinh. Từ Thiên Tử dĩ chí ư thứ dân, mọi người phải lấy việc tu thân làm căn bản. Có như thế đất nước mới cường thịnh, xã tắc mới yên vui.
Lời tâu thô thiển nhưng tấm lòng son sắt, toàn dân nước Xích Quí cuí xin Hoàng Thượng lấy giang sơn làm trọng, xã tắc làm quí mà minh xét sự việc.
Toàn dân đồng thượng tấu.
Quần thần đứng nghe lời sớ trong đó hạch tội đích danh tham tri Đổ Tường trước mặt vua, mọi người đều toát mồ hôi hột, đứng chết trân, run như cầy sấy. Quỉ Vương ngồi im bất động, mắt nhắm nghiền, mặt tím ngắt như đổ chàm, suy nghĩ một lúc thật lâu mới sinh nghi, mở mắt ra nhìn xuống điện có ý hạch tội tên lính dịch trạm, nhưng trong lúc vua tôi, mọi người chú ý vào việc nghe sớ, hắn đã lẻn ra ngoài quất ngựa chạy không biết đi đàng nào.
Quỉ Vương đã định thần, cho rằng không nên đả động gì tới tên lính, trong lúc này cần phải hết sức bình tĩnh và phải tỏ ra là một quân vương có bản lãnh. Nhà vua làm bộ mặt tỉnh bơ như vừa gặp một chuyện gì đó rất tầm thường, lên tiếng ôn tồn hỏi đình thần:
- Các khanh nghĩ thế nào về sớ trình này? Trước hết trẫm muốn nghe ý kiến của thừa tướng Tỷ Đô.
Tỷ Đô vẫn chưa hoàn hồn sau khi nghe bài sớ, còn đang run lẩy bẩy, nghe hỏi tên bèn tìm cách chống chế. Dĩ hòa vi quí trước đã rồi tùy cơ ứng biến sau:
- Tâu Hoàng Thượng, Trước hết thần xin lãnh trách nhiệm vì để cho việc phạm thượng này xẩy ra. Nhưng theo thần nghĩ bất kể là kẻ nào đã ngụy tạo ra quỉ kế này thì cũng chỉ nằm một trong hai mục đích sau đây: một, có thể là âm mưu thâm độc nhằm chia rẽ vua, tôi chúng ta. Và hai cũng có thể là một sự hiểu lầm không đáng trách. Nếu là một âm mưu thì chúng ta phải triệt ngay kẻo sinh ra đêm dài lắm mộng. Còn nếu là một sự hiểu lầm thì cần phải lập tức làm sáng tỏ vấn đề. Thần cho rằng đây là một sự hiểu lầm thì đúng hơn. Thần xác nhận quan tham tri Đổ Tường có đánh bạc, có thua một số ngân lượng khá lớn, và hôm nay đây, ông ta không thể tham dự buổi thiết triều là vì có lý do.
Tâu Hoàng Thượng, vì đất nước đang thời kỳ mở mang, vả lại, tai ương xẩy ra không ít trong mấy lúc gần đây, nên triều đình phải chi ra một số ngân lượng rất lớn. Do đó mà quốc khố không sao bù đắp nổi. Thần và Cơ Mật Viện phải nghĩ cách bổ sung cho sự thiếu hụt đó. Ngày xưa ông cha ta có dậy con cháu cách làm ăn sinh lợi. Có hai cách làm ra tiền mau và chắc chắn nhất nằm trong một câu tục ngữ rất dễ nhớ là: Thứ nhất nuôi cá, thứ nhì gá bạc.
- Muôn tâu Vạn Tuế, nhưng ông cha ta cũng đã có dậy con cháu là: Cờ bạc là bác thằng bần. – Lão tướng Thỏ Đế tức tối ngắt lời thừa tướng Tỷ Đô, nhưng ông này vẫn cứ tiếp tục nói:
- Cả nước ta đã thành công rất lớn trong việc áp dụng nghề nuôi cá. Thứ cá zồ của ta mà nước Kỳ Nhông kêu là Ba Sa rất được ưa thích, đã bán được rất nhiều sang đó và thu về cả triệu ngân lượng. Ngân khố nước ta được bù đắp một phần do nghề nuôi cá.
Còn nghề thứ hai là nghề chứa bạc. Hiện nay nhiều nước trên thế giới làm giầu vì nghề mở sòng bạc, chẳng hạn gần ta như nước Ma-Cạo, ở xa như nước Lát-Về-Gặp đều nhờ nghề cờ bạc mà làm giầu. Nay chúng ta cũng đang học để bắt chước họ. Nghề này đòi hỏi công phu và vốn liếng. Thần và Cơ Mật Viện đã cử quan tham tri Đổ Tường là người có thiên phú về nghề này. Ông ta còn đang trong thời kỳ học hỏi và rút kinh nghiệm. Hy vọng chẳng bao lâu sẽ thành tài. Việc đánh bạc thua được là chuyện bình thường, nay thua một nhưng mai thu về hàng ngàn hàng vạn là điều chắc chắn. Hôm nay quan tham tri không hầu triều được là vì phải tiếp thu một bài học quan trọng. Xin Hoàng Thượng tha tội. Kế hoạch tăng ngân khố này vì còn trong vòng nghiên cứu và học hỏi nên thần chưa dám tấu trình. Để cho kế hoạch tránh được những phí phạm và có kết quả mỹ mãn, thần đã kính nhờ công chúa Xí Xọn và phò mã thường xuyên giám sát tham tri Đổ Tường. Kính xin Hoàng Thượng yên lòng. Do đó theo thần nghĩ đây chỉ là một sự hiểu lầm của những người không biết vấn đề.
Thừa tướng Tỷ Đô biết chẳng giấu được ai nữa, nên đã ngụy biện câu chuyện và kéo luôn cả Quỉ Vương và đám hoàng tộc vô tròng. Chuyện đã vỡ lở, việc đầu tiên của ông ta là đưa công chúa và phò mã ra đỡ đòn để mong thoát thân. Quỉ Vương sực nhớ lại, trước khi ra ngự triều, Hoàng Hậu có úp mở căn dặn: Hôm nay tảo triều nếu có vấn đề gì liên quan đến công chúa Xí Xọn và phò mã, thiếp xin Hoàng Thượng cẩn thận đừng để bọn nghịch thần làm hại con cái chúng ta. Nhà vua tự nhủ rằng nếu không hết sức cẩn thận và khôn khéo thì sẽ sinh loạn ngay.
Cho rằng lời tấu của thừa tướng hợp lý và xuôi tai, Quỉ Vương cảm thấy an tâm, trong lòng giải tỏa đưọc phần nào lo lắng về một vấn đề quá rắc rối mà chính mình và cả hậu cung nữa dính vô. Nhà vua tìm cách vỗ an triều đình, cuí nhìn xuống lão tướng Thỏ Đế với đôi mắt rất độ lượng rồi hỏi han bằng một giọng ôn tồn hiếm thấy:
- Lão tướng của trẫm nghe thấy thế nào, còn gì thắc mắc nữa không?
Thỏ Đế thất vọng đến cực độ, cuí đầu im lặng. Mãi lâu sau mới ngước mặt lên trả lời:
- Tâu Hoàng Thượng, những lời hạ thần muốn tâu lên thì dân sớ đã nói hết cả rồi. Thần không còn gì để nói nữa cả.
Quỉ Vương an tâm cho rằng tên tướng già lắm chuyện này đã bị khuất phục. Vấn đề nát óc bấy lâu nay đã có phương hướng giải quyết. Nghĩa là cứ từ từ cho chìm xuồng hết là xong chuyện. Nhà vua cũng còn muốn tỏ ra ta đây là một minh quân, không hồ đồ cẩu thả, biết giải quyết việc nước một cách thận trọng và sáng suốt, bèn đứng dậy cao giọng truyền chỉ:
- Việc này tuy đã được thừa tướng giải thích, nhưng chưa phải đã kết thúc ở đây. Mọi thần dân của trẫm cứ yên tâm. Trẫm rất hoan nghênh tinh thần vì nước vì triều đình của những người có thiện chí. Trẫm truyền chỉ bắt giam tham tri bộ Công vào thiên lao và sẽ đích thân tra xét vấn đề. Sau này trẫm sẽ có câu trả lời minh bạch cho cả nước biết.
Rồi nhà vua tuyên bố bãi triều. Tất cả triều thần giải tán. Mỗi người ra về mang nặng một tâm sự riêng. Đám nịnh thần tất nhiên phấn khởi, còn bọn Thỏ Đế và một vài đại thần cùng phe năng chĩu nỗi u uất trong lòng. Họ uất ức vì những ngụy biện quá quỉ quyệt của thừa tướng Tỷ Đô, và cũng không ngờ tên hôn quân bên ngoài có vẻ ngờ nghệch kia mà lại cao tay ấn đến thế. Cái màn dịch trạm dầy công dàn dựng của họ cuối cùng cũng bị thất bại!
Vua nước Xích Quỉ nguyên là một tên bịp, một tên bịp đại tài. Người đời gọi lão là Đại Bịp. Đại Bịp lên ngôi tự xưng là Quỉ Vương, tức vua nước Xích Quỉ. Nước Xích Quỉ ở đâu thì chỉ thấy các sử quan ngày xưa ghi lại rằng tương truyền Xích Quỉ là quốc hiệu của giống Ố Nàm Dần. Ố Nàm Dần là một giống chim bói cá có từ trước thời ông Bành Tổ lận, nghĩa là lâu đời lắm rồi. Hồi đó chưa có chữ nghĩa văn tự, loài người không có sử ký, mà chỉ có khẩu sử, nghĩa là lịch sử truyền bằng miệng từ đời này qua đời khác, vì thế tam sao thất bản là lẽ tự nhiên. Người ta tin rằng nước Xích Quỉ chỉ là một truyền thuyết trong dân gian. Cũng cái truyền thuyết ấy bảo giống Ố Nàm Dần vốn tụ bầy trên đỉnh núi Thái Sơn ở phương Bắc, ban ngày kiếm ăn dọc theo bờ biển phía Đông, ban đêm lại trở về núi mà ca hát. Mùa lạnh chúng kéo nhau xuống miền
tìm mồi. Tiết trời ấm áp thì lại ngược về miền Bắc sinh sống. Giống Ố Nam Dần luôn bị loài Xì Thẩu ăn thịt. Xì Thẩu là giống thú dữ chuyên ăn thịt sống. Giống Ố Nam Dần bị săn đuổi dạt về phương
và định cư luôn tại đây. Giống Xì Thẩu gọi theo cách của chúng đất Ố Nam là Ố
Nam Dần Quốc, tức là nước của giống Ố Nam Dần. Nước Ố
trải qua không biết bao nhiêu thời đại các vua chúa trị vì, về sau mới thống nhất mà thành Xích Quỉ.
Xích Quỉ là một quốc gia truyền thuyết nhưng lại có rất nhiều chuyện kể về nó.
Đại bịp lên ngôi hoàng đế nước Xích Quỉ. Trong làng bịp, lũ bịp đàn em của lão tôn xưng lão vương hiệu Vua Bịp. Chỉ nhờ bịp mà Quỉ Vương lấy được nước chứ chẳng có tài cán gì. Vì thế dưới sự cai trị của Quỉ Vương, nước Xích Quỉ trở nên vô cùng lầm than, đói rách và rối loạn. Tình trạng bi đát cứ thế kéo dài cho đến đời Quỉ Vương II (đệ nhị), tức Quỉ Vương con.
Sau khi Bịp Đại Đế chết, trải qua một thời gian khá dài, nước Xích Quỉ được cai trị bởi các đại thần nhiếp chính vì triều đình không tìm ra được thái tử nối ngôi. Số là Quỉ Vương lúc còn hàn vi, phải lang thang đầu đường xó chợ, bôn ba tứ xứ để kiếm ăn hầu nuôi mộng lớn, có nhiều đàn bà con gái bị lừa vì nghe theo lời phỉnh gạt của lão. Vì không muốn gánh trách nhiệm, lão không thừa nhận người đàn bà nào là vợ chính thức cả. Con rơi con rớt đông vô số kể, nhưng Quỉ Vương khi lên ngôi cũng không chính thức thừa nhận người con nào và truyền ngôi lại cho ai. Do vậy mà khi Quỉ Vương chết, trong đám tang, người ta không thấy một người đàn bà nào mặc áo thô đi chân đất đưa tiễn, cũng không có người con trai nào đầu đội nón rơm cầm gậy vông lũi đầu đòn. Xẩy ra đúng như người dân nước Xích Quỉ đã trù ẻo từ trước: Để rồi coi, thế nào chết cũng vô hậu cho coi. Mà quả đúng như vậy, không sai.
Đám con cái vô thừa nhận đều là thứ cầu bơ cầu bất, đầu đường xó chợ chứ có mặt nào xứng đáng tôn lên làm thiên tử đâu. Hơn nữa biết ai mà chọn, không lý chọn con này mà không chọn con kia. Triều đình cãi nhau như mổ bò, kẻ phò người này, kẻ phò người khác. Triều thần phải mất nhiều năm mới thỏa thuận được với nhau về việc chọn thái tử. Đó là lý do xẩy ra tình trạng đại thần nhiếp chính. Vị thái tử nối ngôi có mẹ là một ả mán rừng. Nhưng thật tội nghiệp, người đàn bà này đã bị chính Quỉ Vương ngầm ra lệnh cho viên thượng thư bộ hình tên là Mặt Rằn bí mật giết chết, vì bà này đòi được Quỉ Vương sắc phong làm hoàng hậu.
Thái tử lên nối ngôi lấy hiệu là Quỉ Vương II. Bá tánh thường gọi là Nhị Đế hay là Quỉ Vương con. Nhà vua vốn là một con người nhút nhát và lười biếng, chỉ thích ăn ngon mặc đẹp, ở nơi tiện nghi sang trọng, chỉ được cái nết dễ bảo. Thần dân mỉa mai là thứ đẻ bọc điều, hay là: lù khù có ông Thần Cù hộ mạng. Nhị Đế bị đám quần thần thối nát bưng bít mọi chuyện nên dân chúng càng điêu linh khốn khổ trăm bề. Vua chẳng biết chuyện gì ngoài dân gian nhưng lại luôn luôn kiêu hãnh và thỏa mãn với sự cai trị anh minh tài trí của mình. Vì thế trong nước có người gọi mỉa vua là Ngưu Bì Diện Đế.
Tình hình nước Xích-Quỉ như đã nói trên thật là nhiễu nhương. Xã hội thì điên đảo. Người có ăn học phải làm những nghề của bọn tôi tớ hạ lưu. Trái lại, kẻ bụng rỗng luân thường lại nhẩy lên làm mẫu nghi thiên hạ. Vua chỉ ưa dùng những bọn bầy tôi xu nịnh. Triều đình từ trên xuống dưới hoang dâm vô độ, ăn chơi phè phỡn, cờ bạc thua cứ việc lấy tiền trong kho nhà nước ra mà trả nợ. Trong các dinh thự lâu đài thì vua quan hàng ngày yến tiệc linh đình, đàn ca hát xướng tưng bừng thâu đêm suốt sáng. Bá tánh lầm than đói khổ, cơ hồ chỉ còn biết trông vào cái nghề bán thân mà sống. Trai đi làm thuê ở đợ. Gaí thì bán trôn nuôi miệng, có khi còn phải nuôi luôn cả cha mẹ già, con dại. Đã thuế nặng sưu cao mà triều đình lại còn thẳng tay vơ vét. Quan chức các nơi được thể thi nhau mà hốt đem về làm giầu. Dân chúng tất bật tìm cái ăn cả ngày nhưng cái bụng chẳng bao giờ no. Kẻ có quyền thì mải lo ăn chơi hưởng thụ, thả lỏng cho đám sai nha tha hồ mà bóc lột dân lành. Dưới thời Quỉ Vương con, nước Xích Quỉ lâm vào tình trạng cùng cực như thế nên nhân tâm ly tán, người dân không còn tin vào nhà vua và triều đình nữa. Đất nước vì thế sinh ra loạn lạc khắp nơi. Lòng người phẫn uất. Nhiều đại thần thời tiên đế và đám quan lại, văn có võ có, bị thất sủng tụ tập thành bè đảng tố cáo triều đình và cả nhà vua. Dân chúng được thể nhiều nơi nổi loạn chống lại nha sai.
Tình trạng ấy, theo các sĩ phu đương thời, không phải tự nhiên phát sinh. Nó bắt nguồn từ những chính sách sai lầm ngay từ thời Đại Bịp mới lên cầm quyền. Khi còn bôn ba mưu cầu công danh, Quỉ Vương đã phải nhờ vả vào miếng cơm manh áo của một số đầu lãnh các giống rợ bên ngoài nên ngày nay phải nghe lời bọn này sai khiến. Hơn nữa, về cách trị nước, một đàng nhà vua học đòi thói tàn bạo và ngu muội của bọn đầu lãnh kia, một đàng do bắt chước phép cai trị của tể tướng nước Xì Thẩu thời xưa là Vượng Ể đem về áp dụng. Các phép cai trị ấy đều là sao chép phép Tịch Thổ, phép Định Phú và phép Cấm Gian của Vượng Ể cả. Phép Tịch Thổ là tịch thu tất cả mọi tư điền tư thổ vào trong tay triều đình. Bao nhiêu ruộng đất đều trở thành quan điền cả, trăm họ không còn được riêng một thước một tấc nào. Triều đình Xích Quỉ đổi tên phép này là Hợp Tác Hóa Nông Nghiệp. Sau khi ruộng đất bị tịch thu, người nông dân trở thành trắng tay, phải đi làm thuê cho triều đình để kiếm miếng ăn.
Phép thứ hai là phép Định Phú. Sau khi thi hành phép Tịch Thổ, triều đình áp dụng phép Định Phú. Tất cả mọi người, mọi nhà làm ruộng cũng như buôn bán phải khai gia sản để triều đình đánh thuế. Người giầu đóng nhiều, người nghèo đóng ít. Mức thu công bằng đến nỗi cuối cùng mọi người dân đều trở thành vô sản đồng đều. Đó chính là điều Quỉ Vương mơ ước trước khi lên cầm quyền : một xã hội mà Quỉ Vương cho là công bình, bình đẳng, không ai giầu mà chỉ có hạng khố rách áo ôm như nhau. Người dân thường gọi phép Định Phú này là Cải Tạo Tư Sản hay nôm na là chính sách Cào Bằng.
Đồng thời để hỗ trợ hai chính sách trên, Quỉ Vương thi hành chính sách thứ ba là phép Cấm Gian. Phép này triều đình chính thức gọi là chính sách Hộ Khẩu. Lịch sử nước Đại Xì Thẩu còn ghi chép lại phép Cấm Gian thời Vượng Ể như sau: Cứ 5 nhà gọi là bảo, 10 nhà gọi là liên. Một nhà có lỗi thì 9 nhà kia phải tố cáo. Nếu không tố cáo thì cả 10 nhà đều phải tội chết chém ngang lưng. Ai biết cáo tỏ sự gian cũng có được thưởng. Cáo tỏ một đứa gian thì được thưởng một cấp. Nếu chứa người có tội thì cũng bị coi như kẻ có tội. Các nhà hàng cơm cho người ngủ trọ đều phải có giấy khám nghiệm, nếu không thì không được cho trọ. Phàm là dân, hễ một người có tội thì cửa nhà đều phải tịch biên xung công. Lịch sử nước Đại Xì Thẩu cũng cho biết sau khi lệnh đó ban ra thì từ bấy giờ mọi người đều khiếp sợ, không ai dám nói câu gì. Trong khi đi đường người ta chỉ đưa mắt nhìn nhau mà thôi. Những phép cai trị này, nước Đại Xì Thẩu vào thời Mao Xếnh Xáng cũng cứ đó mà làm theo.
Tình trạng bi đát của nước Đại Xì Thẩu thời Vượng Ể và Mao Xếnh Xáng lại xẩy đến cho nước Xích Quỉ giống hệt như đúc. Một văn nhân có tiếng đương thời của nước Xích Quỉ thuộc trường phái Chửi Đểu đã kết luận về các phương pháp cai trị của các triều đại nhà Quỉ Vương như sau: Mọi sự đưa đến giang sơn nghiêng ngửa, xã tắc mất hết cương thường, người người lâm vào vòng lao lý, tù tội. Oán hận mãi đến đời đời không hết. Xã hội đi vào hoàn toàn đổ nát. Cái nạn mất nước cơ hồ không tránh khỏi