Số người Online : 70523
TANGO'S BLOG - 2/19/2009 6:29:45 PM


Lần Giỗ Thứ 7 Tưởng Niệm TT Nguyễn Văn Thiệu
(29.9.2001 - 29.9.2008)

Phóng Sự Bằng Hình
Lễ Giổ T.T Nguyễn Văn Thiệu Ngày 28-9-2008 tại Falls Church - Virginia

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ & HÌNH ẢNH HOẠT ÐỘNG NHỮNG NĂM LÃNH ÐẠO (1965-1975)

PHẠM PHONG DINH

Nước Việt Nam Cộng Hòa chỉ tồn tại được hai mươi năm, trải qua hai nền Cộng Hòa, dưới sự lãnh đạo của bốn đời tổng thống: Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Một đất nước nhỏ bé chỉ có mười tám triệu dân đã anh dũng chiến đấu chống lại một đại khối cộng sản mười ba nước với số dân hơn một tỉ người, với đạo quân tiền kích hiếu chiến hiếu sát của chúng là quân đội cộng sản Bắc Việt. Dẫu Bắc Việt đã nhận được sự viện trợ gần như vô giới hạn của khối cộng, đặc biệt Liên Sô và Trung Cộng từ sau ngày Hiệp Ðịnh Ba Lê 27.1.1973, dẫu Việt Nam Cộng Hòa đã bị cái gọi là “đồng minh, bạn” bỏ rơi một cách tàn nhẫn, quân đội Bắc Việt vẫn phải rất khó khăn khi tiến vào ngưỡng cửa Sài Gòn ngày 30.4.1975, và sẽ không hy vọng thắng bằng quân sự, nếu Ðại Tướng Dương Văn Minh quyết định đánh tới cùng. Hai chiến thắng ở Thủ Thừa, Long An, của Sư Ðoàn 7 Bộ Binh với người hào kiệt Ðại Tá Ðặng Phương Thành, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 12 Bộ Binh và người dũng tướng Lê Minh Ðảo, Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh ở Xuân Lộc, đã khẳng định rằng, khi mặt đối mặt trên chiến trường, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn chiến thắng.

Quân dân Việt Nam Cộng Hòa trong thế tứ bề thọ địch, phía trước là quân giặc hung hãng, bên cạnh là một người bạn phản trắc, từng nhiều lần giở trò đâm sau lưng, đâm ngang hông và thậm chí ngổ ngáo đâm ngay trước mặt, vẫn ngẩng cao đầu hiên ngang chiến đấu đến giờ thứ hai mươi lăm, thậm chí sang đến những ngày kế tiếp khi cuộc chiến đã tàn. Sau hơn ba mươi năm, sự thật lịch sử được phơi bày qua những hồ sơ đã được giải mật của từ mọi phía tham chiến, bức màn che giấu cái chết bi thảm của QLVNCH và Việt Nam Cộng Hòa đã được vén lên. Cộng sản Hà Nội sẽ hoàn toàn không thắng được quân dân Việt Nam Cộng Hòa, nếu không có sự trực tiếp hỗ trợ vô hạn của khối cộng, sự khiếp nhược và tiếp tay tích cực của điều gọi là “đồng minh”, và sự hèn nhát, thờ ơ và lãnh đạm của cái gọi là “thế giới tự do”. Ðiều gì chờ đón các binh đoàn cộng sản, một khi hàng trăm ngàn tay súng dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn giữ vững từng vị trí và thề tử sinh với giặc.

Ba mươi năm dài đã trôi qua mà niềm uất nhục của từng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn như những vết thương hãy còn sưng tấy và nưng mủ, khi mỗi lần nhớ lại khoảnh khắc quá khứ người ta buộc các anh phải buông súng. Cộng sản Hà Nội nên nhớ rõ rằng, Người Lính QLVNCH chỉ buông súng theo lệnh của hàng tướng Minh, chứ không phải chiến bại trên chiến trường. Lịch sử đã ghi nhận rõ ràng điều đó, các thế hệ sau cũng sẽ rõ được uẩn khúc đó. Ngày nay, Trung Cộng đã công khai công bố bản văn bán nước của cộng sản Hà Nội thông qua việc Hồ Chí Minh lệnh cho Phạm Văn Ðồng gởi công hàm ngày 14.9.1958 công nhận lãnh thổ lãnh hải của Trung Cộng, trong đó bao gồm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bản công bố này chắc chắn sẽ được bộ máy tuyên truyền của Trung Cộng phổ biến rộng rãi trong quần chúng Việt Nam và toàn thế giới, để người dân biết được bộ mặt bán nước của cộng sản Hà Nội, và để hợp thức hóa chủ quyền và quyền khai thác tài nguyên trên những quần đảo này của Trung Cộng. Thế giới sẽ đương nhiên được an toàn khi ký kết những công trình khai thác dầu và khí ở đó. Nhân dân Việt Nam sẽ quăng vào mặt cộng sản Hà Nội kèm theo những bãi nước bọt bản văn bán nước nhục nhã này, chúng còn gì để rêu rao và để bào chữa nữa.

Ðất nước và nhân dân Việt Nam bất hạnh, Miền Nam dũng cảm kiêu hùng cũng bất hạnh. Bất hạnh không phải vì không đánh đuổi được giặc cộng, mà là vì chiến đấu trong nỗi cơ đơn cay đắng và cơ cực. Những người lãnh đạo của hai nền Cộng Hòa đã gồng gánh trên vai sức nặng của cuộc chiến đối đầu với quân địch đã đành, mà còn còng lưng dưới sức nặng phi lý và không cần thiết của những sự thiếu hiểu biết, kiêu ngạo với đồng minh nhưng khiếp nhược trước kẻ thù của người Mỹ. Chính những tướng lãnh và sử gia Hoa Kỳ đã khẳng định sự thật đó. Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị giết chết, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị buộc phải từ chức, đều phản ảnh nỗi bất hạnh của quân dân Việt Nam Cộng Hòa.

Trong lần tưởng niệm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, nhân ngày Giỗ Thứ Bảy của ông, chúng ta cùng ngậm ngùi lật lại vài trang sử cũ có liên quan đến đời binh nghiệp và những năm lãnh đạo đất nước của ông. Một người lãnh đạo trong tư thế đối đầu với mọi thế lực bạn lẫn thù, một cá nhân nhỏ bé mà phải đương cự với hầu hết những tay lãnh đạo sừng sỏ nhất của thế giới, một con phượng hoàng ở giữa bầy hổ lang: Mao Trạch Ðông, Chu Ân Lai, Hồ Chí Minh, Lê Ðức Thọ, Breznev, Kossygyn, Nixon, Kissinger. Và còn nhiều nữa, chưa kể đến nội thù mang đủ mọi màu áo tôn giáo và chính kiến. Thế mà ông đứng vững được đến tám năm, mà có lúc đã đem đến cho Miền Nam một nền kinh tế thịnh vượng trong bối cảnh tàn phá của chiến tranh. Tưởng công nghiệp ấy không phải người lãnh đạo nào cũng có thể làm được. Trong thời gian qua, chúng tôi may mắn tìm thấy được một vài tài liệu về Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đặc biệt phần lược sử chính thức về ông do Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hòa biên soạn và phát hành năm 1971. Chúng tôi xin lược dịch toàn bộ văn bản này. Ðồng thời chúng tôi cố gắng sắp xếp và bổ sung thêm một ít hình ảnh theo thứ tự những năm chấp chánh của Tổng Thống Thiệu, cùng chia sẻ với độc giả, huynh trưởng quân đội và chiến hữu, để gọi là thay thế cho những nén hương hoài niệm về những cống hiến của ông cho dân tộc và tổ quốc.

“Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là vị Tổng Thống thứ hai của Việt Nam Cộng Hòa và cũng là vị Tổng Thống thứ nhứt của của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa sau Hiến Pháp ngày 1.4.1967.

Ông Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5.4.1923 tại làng Trị Thủy, tỉnh Ninh Thuận, thuộc phía Nam miền Trung. Ông Thiệu xuất thân từ một gia đình nông dân có một cuộc sống trung lưu nhờ vào sự cần mẫn trong công việc đồng áng. Ông bà thân sinh của ông Thiệu luôn chăm chỉ làm lụng để nuôi dưỡng đàn con năm người, ba trai và hai gái. Nhưng người anh chị em này cũng đã luôn giúp đỡ lẫn nhau trong sự sinh sống. Những năm niên thiếu, ngoài việc cắp sách đến trường cho đến khi vào trung học, ông Thiệu đã giúp hai người chị gái trong công việc buôn bán.

Trong những năm cuối của Ðệ Nhị Thế Chiến, từ 1945-1946, như hầu hết những người trai trẻ trong thời chiến, chàng thanh niên Nguyễn Văn Thiệu tạm xếp bút nghiên theo tiếng gọi đất nước, tham gia vào những nhóm thanh niên yêu nước trong phong trào có danh xưng là Tái Kiến Thiết Quốc Gia (National Reconstruction), một tổ chức trá hình của Việt Minh. Tuy nhiên, chàng thanh niên Thiệu đã sớm nhận ra rằng trong thời hỗn mang ấy, cộng sản đã lợi dụng lòng yêu nước của những người Quốc Gia để áp đặt lên nhân dân Việt Nam một chủ nghĩa xa lạ, ngoại lai. Ông Thiệu quyết định từ bỏ hàng ngũ Việt Minh để theo đuổi lý tưởng của riêng ông. Ðó là lý tưởng Quốc gia chân chính.

Năm 1948, Trường Võ Bị Quốc Gia được thành lập. Khóa học thứ nhứt của Trường Võ Bị được khai giảng tại Huế để đào tạo sĩ quan chỉ huy cho Quân Ðội Quốc Gia. Trước khi vào Trường Võ Bị, ông Thiệu cũng đã tốt nghiệp Trường Hàng Hải Thương Thuyền, nhưng ông đã nhận thức rằng chỉ là ở Quân Ðội ông mới có cơ hội thực sự chiến đấu chống giặc cộng sản. Năm 1949, chàng sĩ quan trẻ Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp Khóa I Võ Bị Quốc Gia với cấp bậc Thiếu Úy.

Suốt cuộc chiến tranh 1949-1954, từ chức vụ Trung Ðội Trưởng lên đến Trung Tá Trung Ðoàn Trưởng, rồi Tiểu Khu Trưởng, bước chân của ông Thiệu đã từng đặt lên mọi miền đất nước từ Nam, Trung và Bắc. Từ đồng bằng Miền Tây đến Hưng Yên, Phủ Lý ở Miền Bắc, trở vào Miền Trung trong chiến dịch năm 1954. Trong khoảng thời gian chỉ huy trên nhiều mặt trận đó, là một người lính chiến đúng nghĩa nhất, ông Thiệu đã góp vào những trang chiến sử những chiến thắng lừng lẫy. Ông được chiến sĩ và quân đội biết đến như là một người lính dũng cảm và chân chính, với tài lãnh đạo đơn vị và chỉ huy trên chiến trường. Ông còn chứng tỏ tài năng trong lãnh vực tham mưu quân đội.

Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu được đề cử đi tham dự nhiều khóa học ở ngoại quốc, như ở Trường Bộ Binh tại Coetquidan, Pháp quốc năm 1949. Tám năm sau, ông được củ đi học khóa Chỉ Huy Và Tham Mưu cao cấp ở Hoa Kỳ tại Trường Leavenworth, rồi năm 1960 tại trường Forth Bliss. Ngoài ra, Trung Tá Thiệu đã tham dự một khóa học ở Okinawa năm 1959.
Với những kinh nghiệm già dặn ở cả hai lãnh vực quân sự và lãnh đạo chỉ huy trong chức vụ Tư Lệnh Phó Quân Khu II và Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, Trung Tá Thiệu được cất nhắc làm Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Ðà Lạt năm 1956. Trung Tá Thiệu đã góp công đào tạo hàng ngàn cấp chỉ huy hiện dịch ưu tú cho Quân Ðội trong bốn năm trách nhiệm. Với những thành quả to tát đó, ông xứng đáng được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm vinh thăng lên Ðại Tá, rồi được bổ nhiệm làm Tham Mưu Phó Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa, Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Liên Quân trong năm 1960. Sang năm 1961, Ðại Tá Thiệu được đề cử trông coi Sư Ðoàn 1 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 11 Chiến Thuật, chịu trách nhiệm giữ yên bình cho toàn khu vực gọi là Khu Phi Quân Sự (Demilitarized Zone) bao gồm luôn phần lãnh thổ hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Tháng 12.1962. Ðại Tá Thiệu từ giã Sư Ðoàn 1 Bộ Binh trở về Miền Nam trông coi Sư Ðoàn 5 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 32 Chiến Thuật bao gồm phần lãnh thổ của 9 tỉnh thuộc khu vực Miền Ðông.

Sau cuộc đảo chánh 1.11.1963, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu được Hội Ðồng Quân Nhân Cách Mạng tín nhiệm trong chức vụ Tham Mưu Trưởng Lục Quân, Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, kiêm Tổng Thư Ký Hội Ðồng Quân Lực (The Armed Forces Council). Cuộc đời binh nghiệp của Thiếu Tướng Thiệu vẫn xoay chuyển không ngừng, với chiều hướng đi lên, khi ông được đề bạt lên làm Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật. Khi từ giã Miền Tây, ông lại được đề cử làm Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Tháng 6.1965, khi chính phủ dân sự của Quốc Trưởng Phan Khắc Sửu chuyển giao quyền lãnh đạo đất nước cho Quân Ðội, Hội Ðồng Quân Lực với 10 ủy viên đã bỏ phiếu kín bầu Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, một chức vụ hành xử như Quốc Trưởng của Việt Nam Cộng Hòa. Tiếp nối truyền thống dân chủ của nền Ðệ Nhứt Cộng Hòa, Trung Tướng Thiệu đã đắc cử Tổng Thống trong lần bầu cử ngày 3.9.1967, với Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Phó Tổng Thống. Tổng Thống Thiệu tuyên thệ nhậm chức, tuyên thệ trung thành với dân tộc và tổ quốc ngày 31.10.1967, mở đầu cho một trang sử mới và là bước đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa.

Là một vị tướng chiến trường xuất sắc, Trung Tướng Thiệu đã được trao gắn rất nhiều huy chương Quân Ðội như sau:

- Ðệ Nhị Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Lục Quân Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Không Quân Huân Chương
- Ðệ Nhất Ðẳng Hải Quân Huân Chương
- 11 huy chương các loại
- Lãnh Ðạo Bội Tinh, v.v..

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cùng bà Ðệ Nhứt phu nhân Nguyễn Thị Mai Anh, người sinh quán ở Mỹ Tho, tỉnh Ðịnh Tường, có hai người con (ở thời điểm 1971) là Nguyễn Thị Tuấn Anh, 17 tuổi và Nguyễn Quang Lộc, 10 tuổi. Bà Thiệu là đương kim Chủ Tịch Hội Bảo Trợ Gia Ðình Binh Sĩ QLVNCH (National Association for the Protection of Military Dependents). Bà còn là Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Phụng Sự Xã Hội Việt Nam (Vietnamese Women-In Service to the Society Association), đã khởi công xây dựng Bệnh Viện Vì Dân, là bệnh viện tân tiến nhất của Việt Nam”.

Từ năm 1971-1975, Tổng Thống Thiệu tiếp tục cương vị Tổng Thống nhiệm kỳ 2 với cụ Trần Văn Hương làm Phó Tổng Thống. Sau chiến thắng ngoại biên Kampuchea của cả ba Quân Ðoàn II, III và IV từ tháng 4.1970, quân cộng chạy trối chết ẩn náu sâu trong nội địa đất Miên, Tổng Thống Thiệu và nội các chánh phủ đã có được chút thời gian để phát triển kinh tế quốc gia. Khu Kỹ Nghệ Biên Hòa được hồi sinh, doanh gia bắt đầu mạnh dạn bỏ vốn đầu tư, nền kinh tế sáng sủa và có nhiều thành quả lớn. Hãng Citreon Pháp thiết lập lập cơ xưởng ráp xe ở Sài Gòn, Quân Ðội xúc tiến việc thiết kế sản xuất xe “Jeep Citreon” thay thế cho lại xe Jeep chính cống của Mỹ. Những cơ xưởng kỹ nghệ điện tử, truyền thanh truyền hình phát triển mạnh. Nền tài chánh Việt Nam gặt hái nhiều tiến bộ đáng kể với việc thành lập nhiều ngân hàng tư thu hút tiền vốn từ quần chúng. Nhưng đặc biệt và nhiều ý nghĩa hơn hết phải là việc ban hành Luật Người Cày Có Ruộng (Land for Tillers) được Tổng Thống Thiệu long trọng ban hành ngày 26.3.1970 tại Cần Thơ, thủ phủ Miền Tây, trong đó mỗi nông dân chưa có ruộng riêng được cấp phát 3 mẫu ruộng (mỗi mẫu rộng 10.000 thước vuông, 100mx100m) miễn phí. Thuế viên trạch hàng năm chỉ đóng vài trăm đồng Việt Nam tượng trưng, tất cả số huê lợi từ ruộng rẫy, nông dân hoàn toàn sử dụng, không phải giao nộp chánh phủ một hột lúa hay một củ khoai nào. Các cửa hàng doanh thương mua bán nhỏ, thí dụ như những tiệm chạp phô, tiệm may, quán ăn, v.v... cũng chỉ đóng thuế môn bài vài trăm đồng cho một năm. Chúng ta cũng nhớ lại rằng, lương tháng một công chức hay một giáo sư trung học lúc đó trong khoảng 20 đến 25 ngàn đồng, hoặc lương một anh binh nhì khoảng 18.000 đồng, thiếu úy chừng 21.000 đồng, thì thuế nông nghiệp và doanh nghiệp hằng niên chỉ có khoảng 200 ố 300 đồng, là một con số thật nhỏ bé.

Với sự giúp đỡ tích cực của đoàn chuyên gia nông nghiệp Ðài Loan, Viện Lúa Gạo IRRI ở Phi Luật Tân phổ biến các loại lúa mới Thần Nông 5, Thần Nông 8, sản lượng lúa của VNCH tăng vùn vụt. Các kinh tế gia thế giới và Việt Nam đã nhìn thấy triển vọng gần, rằng Việt Nam không còn nhập cảng gạo nữa, chẳng những thế mà trong tương lai còn có thể xuất cảng ra nước ngoài để lấy ngoại tệ về. Tổng Thống Thiệu và nội các của ông đã đưa đất nước lên mức phồn thịnh trong vòng hai năm 1970 và 1971, các chuyên gia đã thiết kế những kế hoạch ngũ niên phát triển nông, công, thương, khai hoang. Giáo sư Vũ Quốc Thúc được mời cầm đầu một nhóm chuyên gia nghiên cứu kế hoạch tái thiết và phát triển quốc gia.

Có thể nói rằng, hình ảnh những vị nguyên thủ quốc gia Ngô Ðình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu bận rộn đi khắp mọi miền đất nước thường rất được thường xuyên nhìn thấy trên báo chí, truyền hình và phim thời sự. Hai vị Tổng Thống siêng năng đi thăm viếng những nơi chốn hẻo lánh nhất. Có khi là một chiếc cầu nhỏ của một toán tiền đồn Nghĩa Quân, một cái đồn lẻ loi giữa ruộng đồng của các anh Ðịa Phương Quân. Có lúc Tổng Thống Thiệu đến ăn Tết cùng các chiến sĩ ở trên một vùng cao nguyên đèo heo hút gió, hay ra tận miền hỏa tuyến để chia sẻ nắng bụi mưa bùn với những người lính ngày đêm trực diện với quân thù ở biên thùy, hoặc về những vùng sình lầy Cà Mau, Chương Thiện trao gắn huy chương cho những chiến sĩ lập kỳ công. Tổng Thống Thiệu còn là một người lính can đảm phi thường. Mặt trận Kontum tháng 6.1972 hãy còn nghi ngút khói than chưa tàn lụi mấy, mà ông đã cùng Trung Tướng Toàn đáp trực thăng xuống vinh thăng cấp bậc cho những chiến sĩ Kontum Kiêu Hùng, trong lúc pháo địch còn nổ ùng oàng chỉ cách mấy trăm thước.

Cũng trong tình trạng cực kỳ nguy hiểm đó, khó ai có thể tiên đoán được điều gì sẽ xảy ra, khi ngày 7.7.1972, chiếc trực thăng của Tổng Thống Thiệu bất ngờ đáp xuống giữa lòng thành phố An Lộc đổ nát, trong lúc pháo địch nhểu xuống cách ông có 400 thước. Ông còn gọi điện về bảo bà Thiệu: “Bà ăn cơm trước đi, đừng chờ tôi. Tôi ở đây với chiến sĩ An Lộc”. Những người lính Sư Ðoàn 5 Bộ Binh, mà ký ức về vị Tư Lệnh thân mến của các anh còn chưa phai mờ mấy, đã hân hoan công kênh Trung Tướng Thiệu lên trong những tiếng reo hò chiến thắng vang dội. Tổng Thống Thiệu đã vinh danh tất cả những người lính, bất kể quân binh chủng nào đã đóng góp vào cuộc vinh quang, là Những Người Lính Của Bình Long Anh Dũng.

Ngày 28.6.1972, đại quân Việt Nam Cộng Hòa, với Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, Kỵ Binh, Pháo Binh, Công Binh, Không Quân, Hải Quân, cùng tất cả các binh chủng yểm trợ tiếp vận xuất phát từ chiến tuyến Mỹ Chánh, dưới quyền tổng chỉ huy của Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn I & Quân Khu I ngồi trên một chiếc thiết vận xa M113 đốc thúc và quan sát, hùng hậu xuất phát. Mấy ngày sau, Tổng Thống Thiệu cùng nhiều yếu nhân quân đội, chánh quyền, quốc hội, ngoại giao đoàn đã ra đến tận bờ sông Mỹ Chánh khích lệ tinh thần binh sĩ. Là một vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao, Trung Tướng Thiệu không cần thiết và không nên lặn lội ra đến chỗ đầu sóng ngọn gió, nơi lửa đạn hiểm nghèo. Nhưng là một người lính từng dầm sương trải gió ngoài chiến trường, và cái cá tính can đảm, năng động, Trung Tướng Thiệu biết rằng sự hiện diện của ông bên chiến hào, ở tận tiền tuyến, là một việc phải làm, thế nào cũng phải làm. Nó nói lên được rất nhiều điều rất ý nghĩa hơn muôn vạn lần những lời động viên suông ở hậu phương. Ông cũng không quên đến Huế lần thứ nhì thăm đồng bào và xem người ta tái thiết chợ Ðông Ba như thế nào sau cơn hỏa hoạn đầu tháng 5.1972 (Chợ Ðông Ba cháy là do Việt cộng mặc quân phục VNCH phóng hỏa, rồi chúng la làng lên, rằng người lính của chúng ta làm chuyện ấy. Ðó là sự vu cáo bỉ ổi của bầy âm binh ngạ quỷ, với những tội ác kinh thiên mà chỉ có những loài quỷ cộng mới có thể làm được. Trong tác phẩm Biến Ðộng Miền Trung của ông Liên Thành, nguyên Trưởng Ty Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên, kể lại lời khai của tên Trung Tá Việt cộng Hoàng Kim Loan khi ông thẩm vấn nó. Hoàng Kim Loan xác nhận hỏa hoạn tại chợ Ðông Ba là do Việt cộng nằm vùng ở Huế đốt, rồi vu cáo người lính VNCH). Ðồng thời, người Tư Lệnh ngày xưa cũng dành thì giờ đến thăm Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, mà giờ đây ông rất yên tâm phú thác sư đoàn cho vị dũng tướng Phạm Văn Phú.

Sau Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.1.1973, đồng minh Hoa Kỳ đã có kế hoạch rút bỏ khỏi Miền Nam, điều khoản quy định về việc tiếp tục yểm trợ chiến cụ cho QLVNCH đã dần dần bị quên lãng. Việc Một Ðổi Một những vũ khí và dụng cụ chiến đấu hư cũ hay mất mát không còn được thực hiện, đi dần đến cắt giảm hoàn toàn. Hai trăm ngàn binh đội miền Bắc được văn kiện Hiệp Ðịnh hầu như hợp thức hóa sự hiện diện ở Miền Nam, cộng thêm người và chiến cụ bổ sung rùng tuôn vào Nam theo con đường Hồ Chí Minh, giờ đã được rộng mở thênh thang mà không bị một sự trừng phạt nào từ phía Hoa Kỳ, thể theo quy định của Hiệp Ðịnh Ba Lê. Sự thất thủ Phước Long tháng 1.1975, rồi đến Ban Mê Thuột tháng 3.1975, cuộc trắc nghiệm thái độ của Hoa Kỳ đã được xác định: người Mỹ đã thực sự bỏ rơi đồng minh. Cộng sản Hà Nội khởi động cuộc tổng tấn công quyết định chiếm toàn bộ Miền Nam, đưa đến quyết định rút bỏ các Quân Khu II và Quân Khu I trong tháng 3.1975 của Tổng Thống Thiệu. Hai Quân Ðoàn II và I bị thiệt hại nặng, quân số sụt giảm nghiêm trọng, nhiều sư đoàn và đơn vị chiến đấu bị tan rã một cách bi thảm. Những yếu tố đó buộc người ta phải nghĩ đến giải pháp thay thế Tổng Thống Thiệu, bởi ngại ông vẫn cứ lệnh cho QLVNCH tiếp tục chiến đấu. Ông Thiệu phải ra đi để nhường sân khấu chính trị lại cho một nhân vật nào đó mà phía cộng sản có thể “chấp nhận” nói chuyện được. Cái ảo tưởng đó đến ngày 30.4.1975, Hà Nội sẽ chứng minh nó hoàn toàn là điên rồ, vì chúng chỉ muốn chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa đầu hàng vô điều kiện.

Ngày 21.4.1975, Tổng Thống Thiệu lên đài truyền hình quốc gia đọc diễn văn từ giã dân chúng và Quân Ðội. Ông cay đắng nói nhiều lời trách cứ Hoa Kỳ tàn nhẫn bỏ rơi đồng minh. Chức vụ Tổng Thống được trao lại cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Tổng Thống Hương làm việc chỉ được một tuần lễ, ông là một chiến sĩ quốc gia có tinh thần chống cộng cứng rắn. Người ta lại phải áp lực cụ trao quyền Tổng Thống cho một nhân vật mềm dẻo và biết điều hơn. Trước mọi sức ép, Tổng Thống Hương đành bàn giao Dinh Ðộc Lập cho Ðại Tướng Dương Văn Minh ngày 28.4.1975. Ba ngày sau, vị Tổng Thống thứ tư của Việt Nam Cộng Hòa đọc lời đầu hàng trên hệ thống truyền thanh quốc gia buộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa buông súng ngừng chiến đấu. Lúc đó là 10 giờ sáng ngày 30.4.1975.

Sống đời lưu vong ở xứ người, thoạt tiên Tổng Thống Thiệu tạm cư ở Ðài Loan, thời gian sau ông sang cư trú ở Anh quốc, rồi cuối cùng sang định cư hẳn ở Hoa Kỳ, thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts. Mang mển trong lòng nhiều uẩn khúc và bí mật quốc gia, ông Thiệu lặng thinh cam chịu sự trách cứ của đồng bào và chiến hữu, về những thất bại và hậu quả ông đã gây ra cho đất nước. Thời gian dần trôi, ba mươi năm hơn, nhiều bí mật đã được phơi bày cho thấy còn rất nhiều yếu tố đóng góp vào sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Ðiều mà chúng ta có thể thấy được là, trong cương vị Tổng Thống của một nước nhược tiểu, Tổng Thống Thiệu đã làm tất cả những gì có thể để cứu vãn đại cuộc. Ông đã từng từ chối thẳng vào mặt Kissinger không chịu ký Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 31.10.1972, bất chấp sự bực tức điên người của ông Nixon, lúc đó đã sắp vào ngày bầu cử tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai của ông. Tổng Thống Thiệu còn quyết tâm không ký Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.1.1973, tỏ rõ chủ quyền quốc gia. Nixon buộc phải gởi một bức thư với lời lẽ rất cứng rắn và hằn học: “Nếu chánh phủ ngài không chịu ký vào văn bản ngừng bắn, thì chúng tôi buộc phải tiến hành ký đơn phương. Ngoài ra, chúng tôi sẽ thông báo với thế giới rằng chánh phủ của ngài ngăn trở hòa bình. Vì lý do đó, chúng tôi buộc phải cắt đứt viện trợ quân sự và kinh tế cho Miền Nam Việt Nam ngay tức khắc”.

Bức thư của Tổng Thống Nixon đã có thể trả lời cho những trách cứ đổ lên sự câm nín của Tổng Thống Thiệu. Dù ông Nixon có cắt hay không viện trợ, thì số phận của Việt Nam Cộng Hòa đã được quốc hội Hoa Kỳ với đảng Dân Chủ chiếm đa số quyết định trong những tháng cuối cùng: “Không một xu nào nữa cho chánh phủ ông Thiệu”. Ngày nay, cũng đảng Dân Chủ đang rục rịch muốn bỏ chạy ra khỏi vũng lầy Iraq và có thể cả Afghnistan, nếu họ thắng được cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11.2008 tới đây. Lịch sử như một chiếc bánh xe luôn lăn tiến về trước, nhưng có lúc nó cũng trở về khởi điểm ban đầu. Một cường quốc giàu có như thế, một quân đội hùng mạnh nhất thế giới như thế, chỉ đáng tiếc không có được những vị tổng tư lệnh đúng nghĩa, có tài thao lược bình định thiên hạ, có hùng tâm tráng chí đạt đến vinh quang, mà chỉ luôn nghĩ đến việc bỏ chạy trước địch quân. Một lần bỏ chạy ra khỏi Việt Nam là đã đủ. Nếu chạy nữa, không khéo thiên hạ sẽ đặt cho quân đội ấy, tổng tư lệnh ấy cái biệt danh “tướng chạy và quân đội chạy bậc nhất thế giới”.

Tổng Thống Thiệu mang những nỗi niềm u ẩn và nhiều bí mật ấy vào thế giới bên kia ngày 29.9.2001. Nhưng hẳn rằng, thời gian càng trôi qua thêm, thì các sử gia nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng như cuộc đời của Tổng Thống Thiệu sẽ còn khám phá ra được nhiều điều còn chưa sáng tỏ nữa.
  
Phạm Phong Dinh


Ý KIẾN CỦA BẠN

TT Thiệu đã là người thiên cổ. Ở đây không dám cân đo công hay tội của ông ta. Chỉ xin kể ra một sự kiện.

Vào những năm 1992, hay 1993, mấy đài BBC, VOA thường phỏng vấn qúy vị  Bảo Đại, Nguyễn Cao Kỳ, và Nguyễn Văn Thiệu về tình thế Việt Nam.

TT Thiệu đôi ba lần tuyên bố:" Tôi khẳng định là thực thể Việt Nam Cộng Hoà còn tồn tại theo pháp lý." Có thể nhờ niềm tin này, mà TT Thiệu buộc lòng phải từ chức 10 ngày trước khi VNCH phải (tạm) giải thể./.


ÝThiêng

Toi da doc bai viet cua Ong Pham Phong Dinh,long that bui ngui va nuoc mat uat nghen muon trao ra!

Mot Nen nhang dang len nhan ngay Gio thu 7 Cua Tong Thong Nguyen Van Thieu!


Nguoi Tu Cong San

Ai còn nhớ hai câu phát biểu trứ danh và bất hủ của TT Thiệu: 

"Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm". Và :

"Đất nước còn, tất cả còn.  Đất nước mất, mất tất cả".

Cảm khái làm sao! Vì nó đúng khi áp dụng với CS ở khắp nơi trên thế gìới chứ không riêng gì ở VN.

Một tên ăn cướp cũng từng tuyên bố : "Nước VN là một, dân tộc VN là một.  Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".  Nói xong y xua bọn cướp tay sai của y vào đánh phá và dùng đủ mọi thủ đoạn để đánh cướp miền Nam.  Có mấy ai biết hắn vừa tuyên bố câu ấy, vừa dâng giang sơn VN cho thiên triều Trung Quốc bằng cả hai tay?  Còn sông đâu nữa để "cạn";  Còn núi đâu nữa để "mòn" mà hắn phải lo?

Xin đốt một nén hương tưởng nhớ Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, một nhà lãnh đạo dù có khuyết điểm đến đâu cũng vẫn có nhiều công hơn tội.

Và chắc chắn lời tuyên bố của ông vẫn mang đầy chân thành và xác thực, nếu so lời này với những gì mà tên ăn cướp râu xồm vẫn hay nói!


Phương Lê

Hinh Can huu  DHH TD/CBXDNT/ KG, dai dien Gia Dinh CB.XDNT, hien dien trong buoi le phat bieu cam tuong va nhac lai ky niem cua CB/XDNT doi voi vi nguyen thu guoc gia. Duoc nhin lai bo do den anh mac, lam chung toi nhu tre lai. Cam on anh. 


Huong Que^'

 

Entry của một người bình thường

Entry này tôi viết cho bạn, lần đầu tiên trong blog tôi thể hiện cái chữ của mình, và friendlist của tôi cũng ko có ai quá "quyền lực" để đưa bài viết này ra xa hơn tầm giới hạn của PANSY's blog. Nhưng vẫn viết.

Chiều nay ở nhà, lướt một vòng thế giới blog, ngẫm thấy thật buồn cho thế hệ của CHÍNH MÌNH

Đã có nhiều lần lướt blog, thấy có bao nhiều là bạn trẻ, tự tin, năng động, thấy nể gì đâu, mình chưa bằng họ.

Cũng có lần, lướt blog, nhìn avarta của các bạn gái,bạn trai, xinh đẹp, thời trang, xúng xính làm duyên, thấy ngưỡng mộ...

Nhưng bây giờ, cũng những nhân vật ăn mặc phong cách, yêu kiều như thế, lại làm thành một xã hội ảo, hỗn độn không kém gì thật.

Xã hội đó, chính là blog, là một phần ngôn luận, là một góc tâm hồn, là PHẦN NHIỀU nhậu thức của tôi, của bạn, của họ.

BUỒN, vì những con người


le xuan viet

Ai cung~ co' loi^~ lam^`, nhung it' ra khi chet' di cung~ con` duoc. tuong~ nho*' den' nhu* TT NVT. Con` Pho' TT Nguyen Cao Ky` , mot. ten hen` ha., neu' co' chet' thi` cung~ chi~ coi nhu* mot. con cho' ghe~ chet' ma` thoi !


PhuongHoang

Khi còn là người lính VNCH, chúng tôi chỉ biết phục tòng quân lệnh, công hay tội của những người có liên hệ đến sự sống còn của đất nước đã có lịch sử phán quyết, lúc ấy chúng tôi chỉ biết làm nhiệm vụ của người chiến sĩ bảo vệ đất nước. Ngay cả khi trong ngục tù CS, chúng tôi vẫn kiên quyết giữ gìn ít nhất là cái danh dự khí tiết của một con người, thà chết không chịu nhục; chẳng hạn chúng tôi nhất định không chịu nói “Thằng Thiệu Kỳ Hương” theo sự bắt buộc của bọn cai tù, và giá phải trả là nhiều anh em đã bị đánh hộc máu mồm, văng cả răng ra ngoài là chuyện thường. Trong nhóm 3 chữ “Thiệu Kỳ Hương”, Cụ Hương là một Kẻ Sĩ Đáng Kính, Cụ Thiệu là Ông Tướng Đáng Nể (không đáng nể làm sao trị vì được thiên hạ cả chục năm), còn ông Kỳ lơ lửng lòng thòng ở giữa thì gọi là gì bây giờ, thôi thì thế này, Cụ Thiệu là  ÔNG TƯỚNG còn ông Kỳ gọi ngược lại là TƯỚNG ÔNG vậy, (“tướng ông” là một cây bài trong “bộ tam cúc”), cây bài “tướng ông” này đã được “người chơi” vật lên vật xuống biết bao nhiêu lần nên rất cũ nát nhầy nhụa, mà chủ nhân cây bài cũng ngu, ai mà không nhận ra cây bài đầy những dấu vết bẩn thỉu và rat nặng mùi như vậy, thế cho nên goi là “tướng ông đáng nhổ”. Tôi có một bài “phiêm phiếm” tên là “tướng ông”, sẽ gởi đăng báo vào lúc thích hợp.

Bất kể thế nào, trong tôi, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn mãi là vị Tổng Tư Lệnh Tối Cao của tôi.       


pham tu trong

 Điếu Văn

nhân Ngày Giỗ năm thứ bảy Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam

Chủ Nhật 28 tháng Chín, 2008 nhằm ngày 29 tháng Tám năm Mậu Tý


Niệm Hương:

Duy Việt Nam quốc

Tuế thứ

Bốn ngàn tám trăm tám mươi bảy

Thu thiên chính nguyệt

Nhị Thập Cửu nhật

Mậu Tý chi niên

 

Hiện diện nơi đây

Giới chức Chính Phủ, Tướng lãnh QL VNCH

Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn và phụ cận

cùng các đoàn thể, và đồng hương nam, phụ, lão , ấu

Hội tại thành phố Fallschurch

Tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ quốc

 

Tâm thành nhang thơm, rượu lễ, hương đăng trà quả

Kính dâng lên

Anh Linh cố Tổng Thống nền Đệ Nhị Cộng Hòa Việt Nam

Nguyễn văn Thiệu

Sinh ngày 24 tháng 12 năm 1924, làng Tri Thủy, tỉnh Phan Rang, Việt Nam.

Mất ngày 29 tháng 9 năm 2001, thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ
 

Nhớ anh linh xưa:


Tuổi thanh xuân, rũ áo thư sinh,

xung vào quân ngũ, phục vụ nước nhà

Nơi chiến trận, sờn vai nhung phục,

chẳng ngại tử sinh, chỉ huy đơn vị

 

Thời thế đổi thay, dự phần trong cơn chính biến

Giang sơn nghiêng ngả, đắc cử lãnh đạo toàn dân
 

Thù trong giặc ngoài, vẫn quyết lòng kiên cường lèo lái

Đồng minh chèn ép, luôn giữ gìn thể diện quốc gia
 

Chín năm chấp chánh, thực thi kế sách an dân

Hai phen đắc cử, phát huy quốc gia chính nghĩa
 

Người Cầy Có Ruộng, trao tặng nông dân mảnh đất vun trồng

Phổ Độ Tam Kỳ, ban cho Tôn giáo, hiến chương hành đạo


Xây dựng nền tảng chính trị, kiên định lập trường Bốn Không,

quyết chẳng dung tha Cộng Đảng

Xiển dương nguyên tắc tự do, ký lệnh ban bố Luật Văn,

vun trồng thịnh vượng Miền Nam
 

Như ngồi trên bàn chông, tâm trí không yên,

mong tài bồi giang sơn gấm vóc

Tựa đối đầu sóng dữ, hai vai nặng gánh,

quyết tạo nền xã tắc yên vui
 

Câu nói còn đây

"Đừng nghe những gì Cộng Sản nói,

hãy nhìn những gì Cộng Sản làm"

bên tai sang sảng, hậu thế nghiệm soi .

Công lao vẫn đó

"Chiến sĩ quyết đấu tranh chống Cộng,

vị nguyên thủ ái quốc tài ba"

sử xanh ngời sáng, bia đá ghi công
 

Dù đất nước bị địch quân đánh phá, vẫn mang về thịnh trị,

muôn người tạc dạ

Dẫu chiến tranh bị cường quốc bó tay, còn đoạt lắm chiến công,  các cấp kính yêu
 

Nhưng than ôi


Đồng Minh phản trắc, tạo muôn vàn áp lực

Gián Điệp nằm vùng, gây tổn hại trầm kha


Tình thế suy vi, trời mây tan tác,

cột chống trời nghiêng ngả lung lay

Sức người hữu hạn, bão tố dập vùi.

tay chèo lái buông xuôi đành đoạn


Vận nước khó xoay, đành từ chức trong ngậm ngùi cay đắng

Cơ Trời không tựa, phải ra đi vơ’i uất hận đau thương


Mất mát kia, cũng đành câm nín

Được thua này, thôi gửi mây bay


Công hay tội, có toàn dân thẩm định

Bại hay thành, chờ lịch sử xét soi


Ra nơi đất khách, tâm tư còn trăn trở, họp kẻ đồng tâm,

mong cứu nguy đất nước

Đến chốn tạm dung, ái quốc vẫn nặng lòng, tìm người tài trí,

hẹn quang phục quê hương


Nhưng hỡi ơi


Sao Bắc Đẩu lìa trời cao, vụt đi vĩnh viễn,

đôi giòng lệ thảm, kẻ hậu sinh nhỏ xuống thương đau

Đóa Anh Linh bỏ xác thân, bay xa biền biệt,

vài nén nhang thơm, người tưởng nhớ tâm thành khấn nguyện

 

Hôm nay đây, đại diện Quân Dân Cán Chính VNCH ,

chúng tôi

Đọc lời ai điếu, theo làn khói, xa bay ngào ngạt

Dâng nén tâm hương, tạ ơn Người, vọng bái vinh danh

 

Xin chứng giám tâm thành,

Nơi cao xanh,

phù trợ muôn dân thoát cơn vận bĩ

 

Phục Duy Thượng Điếu


Trần Quán Niệm phụng soạn


Tra^`n Qua'n Nie^.m

Toi rat buon la bao nhieu nam luu lac o xu nguoi ma Ong Thieu khong bao gio noi cho nguoi Viet Hai Ngoi biet su that cua viec mat  Mien Nam Vietnam.

Tai Sao Ong Thieu lai bo nuoc ra di trong luc dat nuoc can ong o lai de ngan chang VC Bac Viet trang vao Mien Nam Vietnam.

Cho du My la ban dong minh da bo chung ta . Nhung la nguoi lanh tu tha chet tren vien dan cua ban dong minh phan boi hoac la tren vien dan cua VC Bac Viet con hon la chui nhui song do ban den ngay chet.


TMT

Toi la mot nguoi dan ba nam nay da 40 tuoi . Luc mat VN toi chi la mot co be 11 tuoi . Toi khong hieu lam ve chinh tri nhung luc con be toi hay doc truyen Tam Quoc Chi va Han So Tranh Hung ,khi lon len tuy suy luan la ong Tong Thong Thieu khong co tai cam binh va khong hieu lam ve chien luoc lau dai . Neu nam 75 , biet chac la Hoa Ky bo roi Mien Nam va biet chac la CS chi chien thang tam thoi thi ong ta nen nhu rut lui nhu Luu Bang ve San Dao hay nhu Luu Bi ve Tay Thuc , hoac nhu Thong Che Tuong Gioi Thach ve Dai Loan . Hay hon nua la nhu Mao Trach Dong rut quan ve Dien An ...thi tinh hinh se khac , chung ta se tai chiem lai Mien Nam va giai phong Mien bac chi sau 5 nam khi CS mat long dan .  Truoc het dia ban Mien Nam thuan loi cho cuoc rut quan ve Dao Phu Quoc , Con Son va Truong Sa .  Chung ta dem het Hai quan , tau chien ( dung thu 7 the gioi luc bay gio) va may bay ( dung thu 2 tai A Chau ) , cac su doan Nhay Du , Thuy Quan Luc Chien , Biet Dong Quan , cac Su Doan Chinh qui ...va phong thu chien luoc chat che thi Hoa Ky chac chan se giup chung ta nhu Dai Loan vay . Khong cach nao CS co the dem quan ra cac dao Phu Quoc , Con Son hay Truong Sa danh chiem duoc .  Nen nho la dao Phu Quoc con lon hon Singapore va chi can 5 trieu dan quan tai dao nay chung ta se phat trien hung manh khong thua gi Singapore .  Dong bao vuot bien se tim duong qua dao Phu Quoc , Con Son , Truong sa va chung ta se co them chinh nghia . Chi trong vong 5 nam CS mat long dan va voi cac luc luong san co chung ta quay lai giai phong VN mot cach vinh quang .  Cac bac cuu quan nhan nghi sao ve loi ban " Mao Ton Cuong " nay cua mot nhi nu troi ga khong chat ?  Cac tuong Mien Nam gioi va hoa hung nhung rat thieu hieu biet ve chien luoc nhu Tran Hung Dao , Quang Trung hay Le Loi . Neu ho chiu kho doc Tam Quoc chi , Han So Tranh hung hay Quoc + Cong tranh hung ( Tuong Gioi Thach va mao Trach Dong) thi ho se co tam nhin chien luoc hon .


NGUYEN LOAN PHONG

169613885
Copyright 2005 - 2009 © Take2Tango. All Rights Reserved.
Trường Kỳ
Bích Liên
Bằng Lái Quốc Tế
An Lạc
Pinless
Dân Kêu
Chí Tâm
Tom
Quynh Thi
Hồn Nước
Úc Châu
Dạ Lan
Quốc Nam
Khánh
Rao Vặt
QC
Sách
Phong Dinh
QC
Trần Dần
Pinless
test me
Ảnh
Clock
test ads
test ads
Kim Trang
Kim Trang
Phong Dinh
Bodhi
Clock
Pinless
Phong Dinh
Kim Trang
Trần Dần
Bodhi
Tai nan
test ads
Ảnh
Maicafe
Maicafe
cmm
test ads
Phong Dinh
Phong Dinh
Pinless
TNXP
Ảnh
test ads
test ads
Ung Thư
Kim Trang
test ads
test ads
TNXP
Trần Dần
TNXP
Ảnh
MaiCafe
New York
Kim Trang
Trần Dần
Pinless
Bodhi
Phong Dinh
test ads
test ads
Clock
MaiCafe
MaiCafe